.
Giai đoạn 2021 -2025 dù bối cảnh thế giới nhiều biến động, Việt Nam vẫn đạt kết quả toàn diện, nổi bật: 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội hoàn thành và vượt kế hoạch; tăng trưởng bình quân đạt khoảng 6,2%/năm, năm 2025 đạt trên 8%; kinh tế vĩ mô ổn định, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân nâng lên.
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn hạn chế như sức cạnh tranh chưa cao, thể chế còn điểm nghẽn, khoa học công nghệ chưa tạo đột phá, đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn.
Giai đoạn 2026–2030, Trung ương xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/ năm trở lên; đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Kết luận nhấn mạnh các định hướng lớn:
Hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, tháo gỡ điểm nghẽn, phát huy mọi nguồn lực phát triển.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Phát triển mạnh doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân; thu hút hiệu quả đầu tư nước ngoài.
Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn tài chính và nợ công.
Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng chiến lược, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Bảo đảm an sinh xã hội, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế; bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu.
Củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
Trung ương yêu cầu quản lý chặt chẽ ngân sách, tiết kiệm chi tiêu, nâng cao hiệu quả đầu tư công, ưu tiên các dự án trọng điểm, giảm dàn trải. Đồng thời, quản lý nợ công an toàn, minh bạch, chủ động huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền được yêu cầu xây dựng kế hoạch cụ thể, triển khai quyết liệt, tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đề ra; đẩy mạnh tuyên truyền, tạo đồng thuận và khát vọng phát triển trong toàn xã hội.
Kết luận số 18-KL/TW được kỳ vọng tạo động lực mới, đưa đất nước bứt phá mạnh mẽ trong giai đoạn tới.
Phạm Liên